(VEF.VN) - Năm 2011, để ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, cần giải pháp đồng bộ và thông tin nhất quán, tránh để tâm lý người dân bị yếu tố tiêu cực dẫn dắt. – Các chuyên gia kinh tế nhấn mạnh tại bàn tròn với VEF.VN chiều 17/2.
Xin trân trọng giới thiệu Bàn tròn trực tuyến với chủ đề: Giải pháp nào sau điều chỉnh tỷ giá. Tham gia bàn tròn có chuyên gia kinh tế độc lập Bùi Kiến Thành, ông Cao Sỹ Kiêm - nguyên Thống đốc NHNN - Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam, TS. Vũ Đình Ánh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính).
Ghìm lạm phát 2011 sẽ rẩt nặng nề
- Nhà báo Vũ Phong: Việc ngăn chặn tăng giá cần có giải pháp như thế nào vì sau khi điều chỉnh tỷ giá chúng ta sẽ tăng giá điện, giá xăng...?.
- TS. Vũ Đình Ánh: Về câu chuyện tăng giá điện thì theo lịch trình như chúng ta đã biết, từ 1/3/2011 này chúng ta buộc phải tăng giá điện. Hiện nay các phương án cũng rất khác nhau. Phương án thấp nhất 11%, phương án hai nhiều cơ quan có vẻ đồng ý với nhau là 18% và phương án cao nhất mà Bộ Công Thương đưa ra khoảng 32%.
Thứ nhất, cho dù chọn phương án 11% hay 18% đều là tăng kỷ lục. Nhưng việc tăng giá điện cũng gần như câu chuyện tỷ giá hối đoái, thức là không thể không tăng. Hay là đối với giá xăng dầu, khi đã lỗ đều 2.000-3.000 đồng/lít, thì các DN sẽ không thể cáng đáng nổi trong dài hạn. Nói tóm lại, chúng ta buộc phải đứng trước tình thế đã leo lên lưng ngựa rồi thì buộc phải chạy.
Tuy nhiên, câu chuyện ở đây đó là năm nay chúng ta muốn gì? Chính phủ khẳng định từ cuối năm 2010, tiếp tục sang đầu năm 2011 là chúng ta tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có nhiều việc phải làm nhưng đặc biệt là kiểm soát lạm phát.
Rõ ràng, câu chuyện kiểm soát lạm phát năm nay còn nặng nề hơn năm 2010. Năm ngoái, dường như các yếu tố bên ngoài về lạm phát ảnh hưởng ít hơn thì năm 2011 có rất nhiều cảnh báo khác nhau, như nguy cơ khủng hoảng lương thực toàn cầu có thể lặp lại, giống như trường hợp năm 2008. Cảnh báo khác liên quan đến câu chuyện lạm phát toàn cầu. Có thể năm 2010 chúng ta nhìn thấy ít nước lạm phát nhưng ngay từ đầu 2011 chúng ta đã thấy có những nước lớn, có nền kinh tế thị trường đầy đủ, trình độ dự báo tuyệt vời vậy mà lạm phát năm còn cao gấp đôi bình thường.
Có khi, dự báo lạm phát của Việt Nam còn tốt hơn. Trong tháng 2, CPI (chỉ số giá tiêu dùng) tăng dao động 2%, chúng ta còn tốt hơn các nước đó. Rõ ràng biến cố, hay trạng thái lạm phát toàn cầu, cũng có thể xảy ra và như một cảnh báo. Quay lại vấn đề của chúng ta: kịch bản điều chỉnh tỷ giá hối đoái buộc phải có thêm điều chỉnh giá điện, xăng, kéo theo đó có thể là than, nước sinh hoạt...
Như vậy, kịch bản đó có thể lặp lại kịch bản giống 2010. Chính vì những điều chỉnh như vậy mà chỉ số giá tháng của 3/2010 đã tăng 0,75%. Tôi cho rằng con số này đối với năm 2010 dường như là cao và nó là chỉ dấu cho chúng ta thấy rằng kiểm soát lạm phát năm 2010 không hề đơn giản, nhưng rồi chúng ta cũng vượt qua và dừng lại ở mức 11,75%.
Ở đây có rất nhiều yếu tố khác nhau, nhưng tôi cho rằng, một trong những yếu tố quan trọng giữ được ở con số trên là nhờ từ tháng 11 Việt Nam đã tuyên bố không tăng giá xăng, không điều chỉnh lãi suất, không điều chỉnh tỷ giá hối đoái, không tăng giá điện... tóm lại, là không gì hết. Đồng thời, chúng ta triển khai một chương trình bình ổn giá tương đối lớn, ở khá nhiều tỉnh thành, với tổng số tiền vài nghìn tỷ đồng. Tôi cho rằng quy mô đợt bình ổn chưa phải là lớn nhưng đã có tác dụng nhất định, cuối cùng chúng ta giữ được lạm phát ở con số 11,75%.
Sang đến năm 2011, chúng ta phải gánh hậu quả từ việc kìm nén của những tháng cuối năm 2010, cộng hưởng thêm các yếu tố bên ngoài nữa. Chúng ta đặt trọng tâm vào ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát trong năm nay là chính xác, chưa kể giá điện, xăng, than... hay lãi suất có thể điều chỉnh nay mai.
Từ đầu chúng ta có 3 người ngồi đây nhưng rất nhiều tranh luận, ý kiến khác nhau xung quanh con số 9,3% (điều chỉnh tỷ giá). Tôi thì bảo cao quá, hơi bất ngờ, anh Bùi Kiến Thành nói bất hợp lý, còn TS. Cao Sỹ Kiêm lại cho rằng đó là con số tốt. Như vậy, với điều chỉnh giá điện, giá xăng dầu cũng vậy. Chúng ta cứ ngồi tranh luận thật rõ về mức buộc phải tăng giá xăng, giá điện đi, nhưng là tăng bao nhiêu.
Đơn cử như giá xăng dầu, chúng ta có chấp nhận là đến tuần sau có tăng 2.000-3.000 đồng/lít không? Năm 2008, Việt Nam đã tăng đột ngột 4.500 đồng/lít, từ 14.500 lên 19.000 đồng/lít. Bây giờ giả định chúng ta tăng 3.000 đồng, tức là giá xăng A92 là 19.400 đồng, cao hơn cả mức giá của năm 2008 - mà năm 2008, giá dầu thô là 147 USD/thùng còn hiện nay giá dầu thô đang dao động quanh 100 USD/thùng. Rõ ràng có một khoảng cách rất lớn, vậy chúng ta có chấp nhận tăng giá đến 19.400 đồng/lít hay không.
Trong khi nếu lật ngược lại vấn đề đồng nội tệ của chúng ta là mất giá so với chính nó. Tôi đã tính từ năm 2008 đến nay, với mức lạm phát của năm 2008 là xấp xỉ 20%, nếu tính theo cuối kỳ là 19,98% nếu tính theo bình quân kỳ là 22,9%... Năm 2009, lạm phát là 6,52%, nếu tính bình quân kỳ là 6,88%. Năm 2010, lạm phát là 11,75%.
Nếu tính như vậy đồng tiền Việt Nam so với chính nó từ năm 2008 đến nay mất giá khoảng 43%. Trong khi đó, tỷ giá hối đoái chúng ta điều chỉnh tỷ giá 6 lần (từ tháng 1/2008 đến nay), đồng Việt Nam mất giá so với USD là 28% - đấy là con số tôi vừa tính toán để rà soát lại giá trị đồng Việt Nam sẽ đi tới đâu?
Ở đây có 1 bài toán tương quan mà chúng ta cần phải giải được về giá điện, giá xăng dầu, đó là về mức độ điều chỉnh tăng giá.
Thứ hai, chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm của năm 2010 khi chúng ta dồn câu chuyện tỷ giá, giá xăng, giá điện vào tháng 2-3 điều chỉnh (tất nhiên lưu ý cả năm nhìn lại cái giá phải trả, nhưng sáng tháng 4,5,6,7, thậm chí là tháng 8 chúng ta nhìn thấy một bức tranh cực kỳ kỳ lạ. Chúng ta điều chỉnh như vậy nhưng chỉ số giá lại tăng cực thấp, chỉ 0,3% đến tháng 9 câu chuyện lại quay sang một chiều hướng khác).
Vậy năm 2011 sẽ theo kịch bản, phương án nào? Từ đó có phương án tổng thể cho cả năm và có thể cho cả giai đoạn vì 2011 là năm bắt đầu của kế hoạch 5 năm, và chiến lược của chúng ta từ nay đến 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp. Vậy cách điều hành kinh tế, hoạch định chính sách có gì gọi là của nền công nghiệp cơ bản hay không thì tôi chưa nhìn thấy.
Biện pháp đồng bộ, thông tin nhất quán
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Với những lo ngại như thế, theo ông Kiêm, đâu là giải pháp để đạt được sự đồng bộ và tạo niềm tin?
- Ông Cao Sỹ Kiêm: Điều hành 2011 có rất nhiều mâu thuẫn mà chúng ta phải chọn ra cái gì mâu thuẫn nhưng ta phải giải quyết cái gì lợi nhiều nhưng hại ít. Tôi ví dụ, việc tăng giá theo lộ trình giá thế giới mình đặt ra nhưng không làm được nhưng cũng phải làm. Việc tăng tỷ giá cho sát thị trường, rồi kéo lãi suất xuống đầy rẫy mâu thuẫn giữa ý tưởng với điều kiện thực hiện cho nên phải khảo sát cụ thể để có quyết định đúng hơn.
Tôi đồng tình với chỉ đạo của Chính phủ là tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, đầu tiên là chống lạm phát vì nó quyết định cho tất cả các hoạt động khác. Sâu hơn nữa 5 giải pháp tiếp mà Chính phủ giao cho từng ngành cụ thể, từng địa chỉ cụ thể. Theo tôi, những biện pháp đó sẽ hỗ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn bây giờ tăng giá điện theo lộ trình thế giới để chúng ta chống lỗ cho các đơn vị, thu hút nguồn đầu tư vào điện thì phải làm, nhưng tăng ở mức độ nào và cái gì làm trước, cái gì làm sau thì cần phối hợp?
Rút kinh nghiệm năm ngoái chúng ta hô một lúc sẽ điều chỉnh nhưng tuy chưa làm đã tạo tâm lý rồi. Nay cũng phải có lộ trình cụ thể, cái này tăng trước, cái kia tăng sau, mức độ thế này, lộ trình ra sao... tuyên bố cho toàn dân biết là dứt khoát phải thế. Cho nên, bố trí kế hoạch sản xuất kinh doanh cho từng đơn vị phải căn cứ vào đó để thiết kế thì anh mới chủ động ứng phó được, không bị động. Đó là cách tốt nhất.
Khi đã làm đồng bộ được, ép được mục tiêu cao nhất là ép từ lạm phát xống thì mâu thuẫn sẽ được giải quyết và những vấn đề khác bớt căng thẳng đi.
Tôi thấy năm 2011 điều hành kinh tế còn khó hơn nhiều, doanh nghiệp còn khó hơn nhiều, thậm chí so cả với năm 2010, 2008... nhưng chúng ta cần phát hiện các yếu tố mới, kể cả bên ngoài bên trong và những yếu tố điều hành của chúng ta trên cơ sở đã rút kinh nghiệm các năm trước, kể cả chống lạm phát, chống giảm phát sau khôi phục kinh tế. Nói tóm lại là chống được lạm phát để ổn định tình hình, trên cơ sở đó thiết kế từng chính sách cho từng lĩnh vực sao phù hợp để có giải pháp đồng bộ.
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Câu chuyện đồng bộ là vậy nhưng cách thực hiện giữa các Bộ, các đơn vị bao giờ cũng có sự khập khiễng, chẳng hạn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá luôn luôn có sự mâu thuẫn rất lớn mà chính ông cũng đã nhiều lần cảnh báo việc này. Có cách nào để các Bộ, ngành phối hợp để thực hiện mục tiêu mà Chính phủ đề ra một cách tốt nhất, thưa ông?
- Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi đã có kiến nghị và Chính phủ cũng đồng ý sẽ có một cuộc họp bàn giữa các Bộ về cách giải quyết. Hôm trước Chính phủ tuyên bố có 5 giải pháp và 8-9 địa chỉ để triển khai thì phải có một cuộc họp để các Bộ bàn với nhau, lên một lộ trình, một chương trình phối hợp, một chính sách cụ thể để thực hiện đồng bộ, phối hợp lẫn nhau. Đây là việc cần thiết nhất và cũng là khiếm khuyết trong thời gian qua.
Tôi rút kinh nghiệm là kể cả lúc nguy nan nhất về kinh tế, nếu chính sách cơ bản đúng nhưng hành động, sự thiếu minh bạch, thiếu nhất quán thiếu làm chính sách ấy không thực hiện được dẫn tới hiệu quả rất kém, nguy cơ lớn hơn là lòng tin giảm. Đó là bài học mà năm ngoái chúng ta đã vấp phải.
Cần tổ chức nguồn nguyên liệu bền vững
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Bùi Kiến Thành, với mục tiêu củng cố niềm tin và ổn định được kinh tế vĩ mô thì đâu là điểm đột phá cần tập trung thực hiện?
- Ông Bùi Kiến Thành: Trở lại vấn đề tỷ giá một chút. Như chúng ta thấy 2011 sẽ ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng tỷ số giá tiêu dùng. Nếu đấy là một ưu tiên thì cần làm tất cả để thực hiện điều đó thì tại sao lại điều chỉnh tỷ giá lên cao như vậy ảnh hưởng ngay tới vấn đề giá cả leo thang, lạm phát? Điều chỉnh thì vẫn phải làm, nhưng điều chỉnh thế nào để có lợi nhất cho nền kinh tế trong thời điểm này rất quan trọng.
Còn chính sách đồng bộ để phát triển thì trong đó có nhiều vấn đề: Cần phải giải quyết vấn đề điện, không chỉ là vấn đề giá mà cần có đủ điện để phát triển kinh tế bền vững. Bộ Công Thương cho biết nếu không giải quyết được vấn đề giá điện thì từ nay đến 2020, 2025 chúng ta vẫn thiếu điện. Nếu không xây nhà máy mới thì bao giờ mới đủ điện? Muốn xây nhà máy thì phải đầu tư thế nào cho hợp lý để tạo lợi nhuận.
Hiện nay theo EVN, không biết bao nhiêu chục dự án đang trễ tiến độ tại vì không có tiền? Thiếu điện nền kinh tế sẽ như thế nào đây? Anh đang nấu một mẻ sắt thép mà bị cắt điện sẽ làm sao? Anh đang làm đông lạnh cá mà bị cắt điện sẽ ra sao? Hay anh đang có hàng nghìn lao động làm trên công trường thì cắt điện công nhân làm gì? Chi phí đấy sẽ rất lớn so với chi phí tăng giá điện. Chúng ta phải tính sao cho ngành điện có thể hoạt động được với cái giá hợp lý và phát triển bền vững.
Làm điện không thể như hàng xén, phải đi nghiên cứu, đi xem thị trường, đặt ra kế hoạch, 3-4 năm sau mới có thể hoàn thành và 5-7 nhà máy mới phát điện. Anh không giải quyết vấn đề giá cả thì 7-10 năm tới anh vẫn thiếu điện - nguy hiểm ở chỗ đó, chứ không chỉ vấn đề giá cả.
Than cũng vậy. Chính phủ phải chỉ đạo tăng công suất ngành than lên, thậm chí tới 100 triệu tấn trong thời gian tới. Vậy đầu tư gì để tăng năng suất? Gas cũng chưa đủ, buộc phải chạy bằng than thì lấy than đâu? Rồi lại phải đi mua. Nếu bên Australia họ không bán nữa thì làm sao giải quyết đây? Vấn đề đó không chỉ là giá cả mà tổ chức nguồn nguyên liệu để tổ chức sản xuất bền vững mới là quan trọng. Do vậy cần có cái nhìn toàn thể mới giải quyết được mọi khâu của một nền kinh tế đang phát triển.
Vấn đề nữa là lãi suất. Không có nền kinh tế nào phát triển được khi lãi suất cao tới 19-20%, làm sao cho đủ tiền để trả lãi như vậy? Cho nên vấn đề lãi suất Thủ tướng đã yêu cầu ngành ngân hàng phải giảm lãi suất xuống, phải dùng công cụ lãi suất để kéo giá cả xuống. Một chính sách cực kỳ hợp lý mà chúng ta cần nghiên cứu để thực hiện. Phải nhìn cái chung để giải quyết sao cho nền kinh tế được ổn định, bền vững chứ tỷ giá chỉ là một phần nhỏ thôi.
- Ông Cao Sỹ Kiêm: Nói như anh Thành thì mọi vấn đề phải phân tích tận gốc mới giải quyết được vấn đề.
Ví dụ mà ai cũng biết là chúng ta đang thiếu điện. Thiếu điện gây tác hại rất nhiều đến sản xuất, kinh doanh, đời sống ảnh hưởng đến chất lượng lòng tin. Nhưng tại sao lại thiếu? Vì không hoàn thành được lộ trình quy hoạch ngành điện (30% số nhà máy không đưa điện lên được). Tại sao không đưa điện lên lưới được? Vì không có vốn. Tại sao thiếu vốn? Vì không có đầu tư. Vì sao không có tiền đầu tư? Vì giá điện thấp quá người ta không làm, nước ngoài không đầu tư, trong nước không đầu tư. Như vậy lại quay trở lại nút cuối cùng: giải quyết được vấn đề giá thì mới hút được vốn, có nhiều người thích làm điện, mới không thiếu điện.
Như vậy chốt ở đây là giá điện đang chênh lệch với thế giới, không hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Cho nên phải tăng. Tăng giá lại kích thích lạm phát, nếu không làm được lại tạo nên vòng luẩn quẩn. Cần tìm ra chốt để giải quyết, thậm chí có tác dụng phụ, chấp nhận hy sinh để nhìn cái lớn hơn, toàn cục hơn và dài hạn hơn.
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Ánh, như ông Kiêm nói chúng ta phải chấp nhận tăng giá - hy sinh tại thời điểm này để phát triển mai sau?
- Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi nói lại, tăng giá thì nhất quyết phải làm, nhưng mức nào, và thời điểm nào, sự phối hợp ra sao và những yếu tố khác như tiết kiệm điện, đầu tư chi phí thấp hơn, giải quyết các thủ tục để cho nhà đầu tư hăng hái vào... thì cần nhiều biện pháp, nhưng nhất định phải tăng giá và theo đó đồng bộ là các giải pháp khác.
- Ông Vũ Đình Ánh: Câu chuyện giá điện cũng không phải là chủ đề chúng ta đề cập ngày hôm nay nên tôi chỉ nói ngắn gọn, kể cả chuyện ngoài giá còn vấn đề gì cần phải làm nữa. Đây không chỉ là điện mà còn xăng dầu, các mặt hàng khác mà Chính phủ đang quản lý về giá (danh mục bình ổn giá lên tới chục mặt hàng, chưa kể nhóm hàng hoá và dịch vụ mà Nhà nước định giá cũng lên tới khoảng 20).
Tôi cho rằng quan trọng nhất năm nay chúng ta muốn ổn định, vậy điều chỉnh giá về quy mô, mức độ hãy ưu tiên cho mục đích này, kể cả các giải pháp đi kèm.
Riêng với câu chuyện điện cuối năm 2010 đã bàn rất nhiều. Quan điểm cá nhân tôi là nếu buộc phải làm vẫn cứ điều chỉnh, nhưng chúng ta phải nhìn rất nhiều mặt của vấn đề.
Tôi luận chứng như thế này. Cách đây 2 ngày tôi có nghe một ông bên Hiệp hội Năng lượng nói rằng từ năm 1997 đến nay không có một dự án đầu tư nước ngoài nào vào ngành điện. Lý do: giá điện thấp. Nhưng tôi lấy con số của Tổng cục Thống kê thì chính khu vực có đầu tư nước ngoài phát điện cho nền kinh tế Việt Nam đã hỗ trợ cung ứng điện rất tốt. Vậy tôi biết tin ai về đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài vào cung ứng điện cho Việt Nam là bao nhiêu, như thế nào, từ đó lý giải câu chuyện tại sao giá thấp như vậy người ta vẫn làm?. Từ đó quay lại câu chuyện rất nhiều dự án thép vào Việt Nam, đó là nhờ họ tận dụng được giá điện thấp.
Vậy thì chúng ta muốn gì: muốn các nhà đầu tư vào điện hay vào thép, nếu xét về mặt kinh tế vĩ mô tổng vốn đầu tư vẫn tốt? FDI vẫn có thể 20-30 tỷ/năm? Vậy giá điện thấp có phải là tốt không? Đó không phải là bài toán của chúng ta mà nhìn chung cho vấn đề điều chỉnh của chúng ta là ưu tiên cho cái gì? Ý kiến của ông Thành rất hay dưới góc độ, nếu tôi ưu tiên một là tăng trưởng kinh tế, hai là ổn định kinh tế trong năm 2011 thì nguyên cái đó người nước ngoài đã gọi là lựa chọn đối nghịch, không thể vừa thế này vừa thế kia.
Ông Thành còn thêm một lựa chọn nữa mà tôi cho là khó hơn rất nhiều, đó là câu chuyện cho 10 năm sau? Ngành than 2-3 năm nữa phải nhập khẩu, dầu thô không phải là tài nguyên vô tận. Biết bao nguồn nguyên liệu khác mà tôi cho rằng trong tỷ lệ nhập khẩu của chúng ta: máy móc thiết bị 30%, hàng hoá tiêu dùng chỉ chiếm 10%, còn lại đó là nguyên nhiên liệu. Trong bối cảnh hiện nay chúng ta vẫn đang xuất khẩu nguyên nhiên liệu cơ bản vậy, tới đây khi nguồn bị thu hẹp thì tới đây kết cấu của chúng ra sẽ ra sao?
Do vậy, việc điều chỉnh tỷ giá chúng ta thu hút vốn hay không, tăng lạm phát thế nào... thì còn đụng chạm tới vấn đề lớn hơn rất nhiều so với cái chúng ta đang bàn hiện nay chỉ giới hạn trong năm 2011 thôi. Có lẽ chúng ta nên đặt lên bàn và lo lắng nhiều hơn là điều chỉnh tỷ giá và mức độ như thế nào.
- Ông Bùi Kiến Thành: Tại sao sắt thép vào Việt Nam đông như thế? Vì giá thành điện ở Việt Nam thấp nhất trong khu vực. Họ không chỉ khai thác lao động rẻ tiền của Việt Nam mà cả giá điện rẻ - đó là điều không hợp lý. Chưa có nhà máy điện nước ngoài nào phát điện nhưng có cả chục giấy phép cấp rồi mà người ta không đầu tư, không triển khai vì giá điện thấp quá, thứ hai than đâu mà điện chạy đây? Nên việc này phải nhìn tổng quan.
DN Việt thiên biến vạn hoá
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Chúng ta đang nói về giá điện. Thực ra câu chuyện giá điện cũng nằm trong tổng thể về giá và tác động tỷ giá kết hợp giá điện gây ra lạm phát và ổn định vĩ mô. Chính phủ đã thể hiện quyết tâm rồi nhưng Chính phủ cũng rất cần sự đồng thuận từ DN và người dân. Vậy để tạo ra sự đồng thuận và quyết tâm cao hơn mình phải làm gì, vì mỗi khi đất nước khó khăn thì tinh thần dân tộc được khơi dậy. Theo ông Kiêm, từ phía các DN, họ cần phải làm gì để ứng phó và tăng trưởng trong khó khăn này?
- Ông Cao Sỹ Kiêm: Ứng phó của DN Việt Nam theo tôi là thiên biến vạn hoá, qua cuộc khủng hoảng năm 2008, lạm phát năm 2009 và năm 2010 vừa rồi. Rõ ràng khi chúng ta dự báo nhận xét các yếu tố tác động tới DN căng thẳng hơn nhiều, đôi khi sẽ dẫn tới hậu quả là hàng loạt DN phá sản.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện họ vẫn vượt qua, trong đó có yếu tố sự đoàn kết. DN Việt Nam, đặc biệt là DN nhỏ và vừa mới ra đời, thích ứng nhanh, có khả năng quyết đoán và xử lý nhanh. Họ tiếp cận và khai thác các yếu tố thị trường tốt hơn. Do vậy, trước những khó khăn họ có sự điều chỉnh: có thể điều chỉnh tích cực để vươn lên, có thể điều chỉnh thúc thủ. Họ dừng lại, chuyển hướng, hoặc chờ thời... sẵn sàng thích nghi ngay.
Cần phải tổng kết để khai thác mặt tích cực của họ. Phải giúp họ đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu, khả năng, tiềm năng khai thác, kể cả thực tế cũng như chính sách để họ biết làm thế nào để hành động có lợi nhất cho họ và cho nền kinh tế, giảm rủi ro nhất.
Năm 2011 khó khăn hơn nhiều đối với DN - đó vẫn là yếu tố quyết định. Một chính sách của Nhà nước có khi chưa đồng bộ nên chưa có tác dụng ngay, nhưng nếu vận dụng sự sáng tạo của tất cả DN trên khắp mọi miền đất nước ở tất cả các lĩnh vực thì sẽ có sức sáng tạo và khả năng đóng góp nhiều hơn.
Thứ hai, trong tình hình khó khăn, Nhà nước nên hỗ trợ những chỗ cần thiết mà họ không làm được: môi trường chính sách, khả năng dịch vụ phục vụ phải nhanh nhạy, thuận lợi, minh bạch, rõ ràng... Khó khăn người ta có thể chấp nhận, nhưng anh giúp tôi nhanh một chút, kịp thời một chút thì tôi chớp được thời cơ; có thể vay với lãi suất cao hơn một chút nhưng sản xuất nhiều hơn, chiếm lĩnh được thị trường, tiêu thụ được nhiều hơn thì tôi cũng sẵn sàng chấp nhận. Ngoài cố gắng của họ thì vai trò của Nhà nước, của cơ quan dịch vụ phục vụ cũng phải được nâng lên, có cải tiến rõ ràng và rút kinh nghiệm những năm qua.
Tôi tin rằng tác động của thế giới tác động sẽ không thuận, như khủng hoảng lương thực, giải quyết xung đột tiền tệ, chính sách XNK... không phải ngày một ngày hai được... sẽ tác động đến Việt Nam ngay vì độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn. Những yếu kém của chúng ta như cân đối vĩ mô, hạ tầng, chất lượng nguồn lực, thủ tục hành chính... tuy rằng chúng ta thấy rất rõ nhưng cần giải quyết theo quá trình. Nếu phát huy được mặt mạnh sẽ góp phần tích cực chuyển biến tình hình, không nhanh nhưng có thể vững chắc.
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Tôi nhớ lại câu nói của ông Thành rằng nguồn lực của mình phải lớn hơn, có nghĩa là để mong được ổn định cũng phải phát triển, không có sự đánh đổi quá nhiều giữa ổn định và tăng trưởng. Theo ông, trong thời điểm khó khăn này Việt Nam cần làm gì để hướng tới ổn định dài hạn ?
Ông Bùi Kiến Thành: Tôi rất thán phục bản lĩnh và sáng tạo của cộng đồng DN Việt Nam, bao nhiêu khó khăn như vậy mà họ vẫn vươn lên phát triển được. Do vậy, cần tạo mọi điều kiện, tạo môi trường cho DN phát triển.
Thứ nhất, về quản lý Nhà nước thì môi trường phải thông thoáng hơn, dẹp bớt chi phí quan hệ này nọ để chi phí của DN giảm xuống - đó là nhiệm vụ chính trị cần làm tốt hơn những năm vừa qua.
Ngoài ra, có những điểm Chính phủ chủ động làm được, chẳng hạn về lãi suất, không cần dựa vào tiết kiệm của nhân dân. Tại sao chúng ta không chủ động sử dụng chủ quyền của Việt Nam về tiền tệ để có thể có được nguồn tín dụng với lãi suất thấp hơn? Đó là điều năm nay cần thực hiện được chủ trương mới về giảm lãi suất.
Tất cả các chuyện khác khi nói Chính phủ cho mọi người thấy là có thể dự báo được, phát triển được và có được sự hỗ trợ của các cơ quan quyền lực trong những việc chúng ta làm.
Tôi đưa ra ví dụ là khi ông Park Chung Hy lên nắm chính quyền ở Hàn Quốc ông hỏi hội doanh nghiệp nước này rằng giờ các DN cần gì. Tôi là chính phủ đây, tôi sẽ cung cấp đầy đủ tài chính cho các anh làm - đó là trách nhiệm của chính phủ, còn các ông phải có trách nhiệm phát triển kinh tế. Huyndai làm xe ôtô, Samsung làm điện tử... cứ làm thật tốt, nếu cần gì chính phủ sẽ cung ứng. Tất cả những dự án khả thi đều được Nhà nước tài trợ, thậm chí 100% vốn, và giám định để cho các DN làm.
Rõ ràng Hàn Quốc đã chứng minh cho chúng ta thấy chính sách này có tác dụng cực mạnh trong 10 năm tiếp theo, 20 năm tiếp theo nữa. Đó là bài học để Việt Nam cần xem xét và làm tốt hơn. Vấn đề là làm như thế nào thôi và tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn làm được để năm 2011 chúng ta có sự đột biến.
Tránh tâm lý đám đông bị yếu tố tiêu cực dẫn dắt
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Ánh, ông băn khoăn rất nhiều về tâm lý người dân trong bối cảnh hiện nay, vậy theo ông cần làm gì để người dân ổn định tâm lý, tiết kiệm chi tiêu và chung tay với khó khăn của đất nước?
TS. Vũ Đình Ánh: Thứ nhất liên quan đến câu chuyện tăng trưởng lạm phát chúng ta bàn xem mục tiêu nào là ưu tiên để tăng trưởng ổn định và bền vững. Tôi cho rằng trong các yếu tố để phát triển chúng ta có 2 phương án.
Về vốn, chúng ta hay nói tăng hiệu quả sử dụng vốn thì giả định Việt Nam tăng trưởng 6-7%, khi đó sẽ không phải sử dụng 40% GDP để đầu tư nữa (cả trong nước và ngoài nước) mà chỉ cần 35% chẳng hạn... như thế là rất tốt rồi vì đã thu hẹp được khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư của Việt Nam. Chính khoảng cách quá lớn, khoảng 10% GDP, giữa tiết kiệm và đầu tư của Việt Nam, đã gây ra câu chuyện về sự mất cân đối vừa qua. Lỗi không phải tại chúng ta tiết kiệm quá nhiều mà tại đầu tư cao so với mức tăng trưởng. Có một phương án khác cũng hay chúng ta không phải đầu tư 40% GDP nữa nhưng phải tăng trưởng trên 10% thì cũng không hề xấu mà tăng trưởng sẽ vừa cao vừa ổn định.
Về tâm lý đây là yếu tố chi phối rất nhiều, không chỉ với thị trường tài chính tiền tệ vốn rất nhạy cảm và nó còn bị chi phối bởi hiệu ứng tâm lý đám đông. Tâm lý khi cộng hưởng hiệu ứng tâm lý đám đông nữa sẽ ảnh hưởng nguy hại nếu đưa theo chiều hướng tiêu cực, và sẽ tốt đẹp nếu theo chiều hướng tích cực.
Việt Nam cần xử lý dứt điểm 2 câu chuyện mà ông Kiêm đã nhắc tới trước đó, đó là sự nhất quán trong điều hành. Nếu không, sẽ tạo ra một môi trường mà ở đó các yếu tố tâm lý sẽ đi theo nhiều chiều hướng khác nhau, và rất có thể nó được dẫn dắt bởi các yếu tố tiêu cực.
Ngoài ra, chuyện điều hành cũng liên quan đến yếu tố đồng bộ. Tại sao ta chưa làm tốt? Bởi vì có chuyện như thế này: Phân công phân nhiệm của ta có vấn đề. Cùng một việc có thể phân công rất nhiều người làm nhưng không ai chịu trách nhiệm, ngược lại có chỗ thì không phân công ai cả. Từ đó, dẫn tới câu chuyện thiếu đồng bộ. Cần có người điều hành phân công phân nhiệm đó, tức là người đứng trên.
Thứ hai, yếu tố tâm lý là luôn có, đặc biệt là tâm lý đám đông, nó biến động dữ dội khi những thiếu thông tin chính thức. Tin đồn và hiệu ứng đám đông chỉ phát triển khi thiếu những thông tin nhất quán, chính thức. Do vậy, cần cung cấp thông tin chính thức và sự nhất quán trong nội hàm thông tin đưa ra chứ không ở vỏ bọc ngôn ngữ.
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Xin cảm ơn các vị chuyên gia về buổi trực tuyến với rất nhiều vấn đề được nêu ra liên quan đến tỷ giá và gợi mở nhiều biện pháp cho công tác điều hành sắp tới.