JA slide show

Văn phòng luật sư BT: 22 Hai Bà Trưng, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. ĐT: 0753701357, DĐ: 0918884995, Fax: 0753511143. -  Chi nhánh Hòa Bình: 208B Hòa Bình, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. ĐT: 0835075669, DĐ: 0918884995, 0909991023, Fax: 0839738867 - Chi nhánh Long Xuyên: 7C Lê Hồng Phong, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. ĐT: 0763727737, DĐ: 0918884995, 0917937344, Fax: 0763727737

Văn Phòng Luật Sư Kinh tế - Thương mại

Kinh tế - Thương mại

LÃI SUẤT "NGẤT NGƯỠNG": CẨN THẬN HIỆU ỨNG NGƯỢC

Tác giả: Cảnh Thái

(VEF.VN) – Duy trì lãi suất cho vay ở mức 18%-20%, các nhà hoạch định chính sách kỳ vọng đối phó với lạm phát. Nhưng thực tế lại có thể gây ra tâm lý e ngại đầu tư sản xuất bởi mức lãi suất quá cao, khó đầu tư có lãi. Tác giả Cảnh Thái cho rằng cần nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa ra các quyết sách có tầm ảnh hưởng lớn như vậy.

Lợi bất cập hại

Lãi suất cơ bản được giữ ở mức độ cao ở Việt Nam trong những năm qua nhằm đối phó với lạm phát và hỗ trợ chính sách lãi suất thực dương.

Tuy nhiên, lãi suất cơ bản có thể là nguyên nhân dẫn đến lãi suất huy động cao, lãi suất cho vay rất cao, doanh nghiệp và nền kinh tế cảm thấy sức ép lớn, quá sức chịu đựng của hoạt động sản xuất kinh doanh, gây đình trệ, làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

Cần có các nghiên cứu sâu cả định tính lẫn định lượng nhằm hỗ trợ các nhà điều hành kinh tế vĩ mô có các quyết sách đúng đắn và chính xác trong việc ban hành các chính sách kinh tế phù hợp cho các giai đoạn phát triển của đất nước.

Doanh nghiệp khi vay ngân hàng lãi suất cao sẽ đưa chi phí vay vào giá vốn và giá bán tăng lên cao dẫn đến hình thành một mặt bằng giá bán hàng mới. Ai cũng thấy phản ứng của thị trường càng lúc càng nhanh trước các chính sách kinh tế vĩ mô vừa mới ban hành. Lãi suất vừa ban hành tăng lập tức giá cả hàng hóa tăng theo nhanh chóng. Giá ổ bánh mì, gói xôi, tô phở, giá bơm xe, giá giử xe .v.v. đều tăng gây khó khăn cho mọi người dân.

Có thể nói, ở góc độ nào đó, một doanh nghiệp đi vay với lãi suất thấp, nhờ ưu thế mối quan hệ hay tài năng xoay xở, để kinh doanh và làm ăn sẽ có cơ may bán hàng giá thấp hơn, giá cạnh tranh hơn là doanh nghiệp khác phải vay với lãi suất cao trong cùng một thị trường và sản phẩm dịch vụ.

Cẩn thận hiệu ứng ngược

Ai cũng nghĩ lãi suất tăng cao là để kềm chế lạm phát! Nhưng ...

Khi giá cả hàng hóa gia tăng khắp nơi vì lãi suất đầu vào cao, các doanh nghiệp chưa tăng được giá bán chịu sức ép chung sẽ không giữ được giá bình ổn, cũng phải tăng giá theo để trang trải các chi phí trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến đầu vào của doanh nghiệp. Thậm chí, đối với các doanh nghiệp không bị áp lực tăng chi phí đầu vào cũng có tâm lý muốn đón đầu tăng giá bán, thu lợi nhuận cao hơn. Điều này có thể dẫn tới việc toàn thị trường đều tăng giá bán.

Thực tế cho thấy, giá cả hàng hóa sau Tết tăng mạnh vì dường như đã bị kềm nén trước Tết giờ phải bung ra!


Có thể phân biệt các mặt hàng trong rổ hàng hóa, cái nào là thiết yếu, nhu yếu phẩm, các mặt hàng phục vụ sản xuất kinh doanh, các mặt hàng phụ trợ, các mặt hàng không thiết yếu .v.v và nói rằng điều nói trên chưa hẳn đúng. Nhưng chúng ta đều thấy việc tăng lãi suất cơ bản hay tăng lãi suất cho vay doanh nghiệp thì dù muốn hay không, sớm hay muộn, doanh nghiệp vẫn phải cố tồn tại, vẫn phải tiếp tục làm hay duy trì bộ máy nếu không muốn đóng cửa, dẹp tiệm, thì phải tiếp tục làm ra sản phẩm với giá bán mới.

Thực tế cho thấy sau mỗi đợt ngân hàng nhà nước tăng lãi suất cơ bản, lãi suất ngân hàng tăng theo, doanh nghiệp cố gắng giữ giá bán một thời gian để giữ uy tín và quan hệ khách hàng, sau đó không chịu nổi lâu, đều phải gửi thông báo tăng giá bán tới các bạn hàng! Chưa kể tình trạng được gọi là "té nước theo mưa" hay lợi dụng thời cơ ai cũng lên giá nên mình tăng theo!
Đồng tiền từ thu nhập chính đáng của người dân bỗng nhiên không mua được lượng hàng hóa như trước, trở nên mất giá.
Các thành phần kinh tế không cùng dòng chảy

Các khu vực kinh tế quốc doanh, dân doanh, nước ngoài tạo cảm giác một nền kinh tế có nhiều thành phần nhưng có các cách thức vận hành khác nhau, không "cùng chảy", thiếu tương quan bình đẳng, không được tạo điều kiện như nhau về "đầu vào" và "đầu ra" của nguồn vốn đầu tư và cách thức tiêu thụ sản phẩm dịch vụ.

Có hay không một nền kinh tế có các "luồng chảy" hay "mạch chảy" khác nhau, rất khác biệt về nguyên lý vận hành? Nếu nhà nước vì một động cơ nào đó phải bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nước, đưa tay cứu vớt các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, phá sản hay chi thêm tiền ngân sách cho tái đầu tư, tăng lương thưởng, dẫn đến bội chi ngân sách không hiệu quả và tăng dần hàng năm, .v.v. thì lạm phát xãy ra sau đó là tất yếu.
Chúng ta cổ vũ cho một nền kinh tế nhiều thành phần bình đẳng, văn minh hay cổ vũ cho việc có nền kinh tế có nhiều "luồng chảy", nhiều "mạch chảy", hay nhiều "lớp cao thấp" khác nhau? Điều này tùy thuộc vào các chính sách kinh tế vĩ mô tương ứng.

Tinh thần doanh nghiệp có suy giảm?

Tâm lý không muốn sản xuất kinh doanh, không muốn đầu tư vào sản phẩm dịch vụ, kỹ thuật và công nghệ mà chỉ sử dụng đồng tiền quay vòng, cho vay lấy lãi? Lãi suất hiện tại quá cao khi doanh nghiệp phải vay vốn với 18 - 20%/năm khiến ai cũng bối rối. Ai cũng nghĩ rằng có tiền hiện tại tốt nhất gửi ngân hàng, làm ăn chi cho mệt, không đủ trả lãi!

Một người bạn học ở Đức nói đất nước có nền khoa học kỹ thuật trình độ bậc nhất và xuất khẩu sản phẩm công nghệ hàng đầu thế giới này rất chú trọng việc đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D). Các nhân tài khoa học kỹ thuật được trọng dụng và đãi ngộ thích đáng. Điều này khiến nước Đức có được một nền tảng khoa học kỹ thuật và công nghệ vững chắc có thể chống chọi rất tốt với các cơn "bão tài chính" hay "tiền tệ" nào.

Ở Việt Nam, trong nhiều năm trở lại đây, các trường đại học ngành kỹ thuật công nghệ không còn thu hút được những người giỏi nhất nữa. Ưu thế đang thuộc về các ngành kinh tế tài chính, ngân hàng. Đây là vấn đề lớn thuộc về chiến lược huấn luyện, giáo dục đào tạo của đất nước.

Chính sách giáo dục đào tạo đúng sai không được xác quyết ở đây. Tuy vậy, dễ nhận ra thu nhập của các nhân viên với cùng số năm kinh nghiệm làm việc, học ngành kỹ thuật thường vất vả hơn và thời gian dài hơn, thì có vẻ ngành tài chính ngân hàng đang có thu nhập tốt hơn nhiều so với ngành khoa học kỹ thuật hay sư phạm. Về lâu dài sẽ ra sao?

 

Ở góc độ kinh doanh, trong các năm vừa qua, từ 2008 trở lại đây, ta thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khủng hoảng kinh tế thiệt hại nhiều trong khi các ngân hàng luôn có lãi lớn! Điều này, thực sự không động viên các nguồn lực quốc gia vào công cuộc sản xuất kinh doanh làm ra của cải vật chất mà chỉ khuyến khích người có vốn mang tiền đi cho vay kiếm lời hay mua bán lòng vòng tạo ra các giá trị "ảo" như "bong bong bất động sản", "bong bong cổ phiếu" hay các cơ hội đầu tư mối quan hệ quyền lực nhóm để kiếm lời.

Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thất nghiệp?

Đây là vấn đề gây nhiều tranh cãi và có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái khác nhau.
Cũng tương tự như việc nhận định liệu lạm phát có tính chu kỳ dài hay ngắn tại mỗi quốc gia, các chính sách kinh tế hiện tại nên tập trung giải quyết vấn đề ngắn hạn trước mắt hay cần đặt mục tiêu dài hạn hơn.

Giảm lãi suất có thể kích thích kinh tế, giảm thất nghiệp hay tăng lãi suất, giảm đầu tư để kiềm chế lạm phát? Lạm phát và thất nghiệp cái nào nguy hiểm hơn? Giảm phát và đình trệ có nguy hiểm hơn lạm phát?

Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp có song hành hay nghịch hành?

Nước Mỹ đang lo lắng cho nền kinh tế bị thiểu phát và giảm phát nên hạ lãi suất, đưa ra các gói kích thích kinh tế, khuyến khích sản xuất kinh doanh nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp nhưng điều này có luôn đúng? Nhiều kinh tế gia nổi tiếng thế giới đã ủng hộ cũng như phản bác các chính sách này.
Trung Quốc thực thi chính sách duy trì đồng tiền yếu để đẩy mạnh xuất khẩu, giữ đồng Nhân dân tệ thấp, lợi dụng chi phí lao động thấp để hạ giá bán nhằm chiếm lĩnh thị phần hàng hóa toàn cầu nhưng liệu điều này có giữ được lâu?

Tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ tăng gần 10% nhưng khó nói chất lượng cuộc sống của người dân Mỹ đã cải thiện sau khi đưa ra các chính sách hạ lãi suất và kích thích kinh tế (nới lỏng định lượng). Ngược lại, Trung Quốc cũng đang đối mặt với vấn đề chất lượng cuộc sống và môi trường ô nhiễm dù đã duy trì chính sách đồng tiền yếu trước giờ.

Tạm kết
Các chủ trương chính sách vĩ mô nhằm can thiệp ngắn hạn vào nền kinh tế bằng cách điều chỉnh lãi suất hay tỷ giá để giảm thất nghiệp trước mắt, hay xa hơn là tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, ... về lâu dài tác động ra sao đến các chính sách có tầm nhìn dài hạn hơn, như ổn định kinh tế vĩ mô và/hoặc chống lạm phát hay giảm phát là điều cần cân nhắc.

Có nên can thiệp từng li, từng chút trước các căn bệnh ngắn hạn của nền kinh tế bằng các mệnh lệnh hành chính hay cứ để thị trường tự điều tiết thì sẽ có tác động tốt hơn trong dài hạn và nhà nước đóng vai người xây dựng và hoàn thiện luật kinh doanh trên cơ sở các pháp luật kinh doanh quốc tế đã được xây dựng lâu đời, hợp lý và được nhìn nhận rộng rãi, hơn là chạy theo các biến động thị trường từng ngày, từng tháng.

Các nghiên cứu định tính (qualitative study) và định lượng (quantitative study) công phu về các vấn đề nóng và cốt tử của nền kinh tế cần được tiến hành trước khi đưa ra các tư vấn hợp lý cho các quyết sách kinh tế vì tầm ảnh hưởng của mỗi chính sách là bao trùm trên phạm vi cả nước và khu vực, ảnh hưởng đến đời sống của mỗi người dân. Có như vậy mới có thể nhấn mạnh vai trò của các nghiên cứu kinh tế, tránh được tình trạng các chính sách ban hành đúng hay sai không rõ ràng, không có ai chịu trách nhiệm hay rút kinh nghiệm để làm tốt hơn về sau.

Khi các chính sách được đưa ra dựa trên nền tảng các nghiên cứu có tính khoa học và học thuật cao sẽ tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội và có tính dự báo được đối với mỗi người dân và doanh nghiệp.

 

Năm 2011: Điều hành đồng bộ, thông tin nhất quán

(VEF.VN) - Năm 2011, để ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, cần giải pháp đồng bộ và thông tin nhất quán, tránh để tâm lý người dân bị yếu tố tiêu cực dẫn dắt. – Các chuyên gia kinh tế nhấn mạnh tại bàn tròn với VEF.VN chiều 17/2.

Xin trân trọng giới thiệu Bàn tròn trực tuyến với chủ đề: Giải pháp nào sau điều chỉnh tỷ giá. Tham gia bàn tròn có chuyên gia kinh tế độc lập Bùi Kiến Thành, ông Cao Sỹ Kiêm - nguyên Thống đốc NHNN - Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam, TS. Vũ Đình Ánh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính).


Ghìm lạm phát 2011 sẽ rẩt nặng nề

- Nhà báo Vũ Phong: Việc ngăn chặn tăng giá cần có giải pháp như thế nào vì sau khi điều chỉnh tỷ giá chúng ta sẽ tăng giá điện, giá xăng...?.

- TS. Vũ Đình Ánh: Về câu chuyện tăng giá điện thì theo lịch trình như chúng ta đã biết, từ 1/3/2011 này chúng ta buộc phải tăng giá điện. Hiện nay các phương án cũng rất khác nhau. Phương án thấp nhất 11%, phương án hai nhiều cơ quan có vẻ đồng ý với nhau là 18% và phương án cao nhất mà Bộ Công Thương đưa ra khoảng 32%.

Thứ nhất, cho dù chọn phương án 11% hay 18% đều là tăng kỷ lục. Nhưng việc tăng giá điện cũng gần như câu chuyện tỷ giá hối đoái, thức là không thể không tăng. Hay là đối với giá xăng dầu, khi đã lỗ đều 2.000-3.000 đồng/lít, thì các DN sẽ không thể cáng đáng nổi trong dài hạn. Nói tóm lại, chúng ta buộc phải đứng trước tình thế đã leo lên lưng ngựa rồi thì buộc phải chạy.

Tuy nhiên, câu chuyện ở đây đó là năm nay chúng ta muốn gì? Chính phủ khẳng định từ cuối năm 2010, tiếp tục sang đầu năm 2011 là chúng ta tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có nhiều việc phải làm nhưng đặc biệt là kiểm soát lạm phát.

Rõ ràng, câu chuyện kiểm soát lạm phát năm nay còn nặng nề hơn năm 2010. Năm ngoái, dường như các yếu tố bên ngoài về lạm phát ảnh hưởng ít hơn thì năm 2011 có rất nhiều cảnh báo khác nhau, như nguy cơ khủng hoảng lương thực toàn cầu có thể lặp lại, giống như trường hợp năm 2008. Cảnh báo khác liên quan đến câu chuyện lạm phát toàn cầu. Có thể năm 2010 chúng ta nhìn thấy ít nước lạm phát nhưng ngay từ đầu 2011 chúng ta đã thấy có những nước lớn, có nền kinh tế thị trường đầy đủ, trình độ dự báo tuyệt vời vậy mà lạm phát năm còn cao gấp đôi bình thường.

Có khi, dự báo lạm phát của Việt Nam còn tốt hơn. Trong tháng 2, CPI (chỉ số giá tiêu dùng) tăng dao động 2%, chúng ta còn tốt hơn các nước đó. Rõ ràng biến cố, hay trạng thái lạm phát toàn cầu, cũng có thể xảy ra và như một cảnh báo. Quay lại vấn đề của chúng ta: kịch bản điều chỉnh tỷ giá hối đoái buộc phải có thêm điều chỉnh giá điện, xăng, kéo theo đó có thể là than, nước sinh hoạt...

Như vậy, kịch bản đó có thể lặp lại kịch bản giống 2010. Chính vì những điều chỉnh như vậy mà chỉ số giá tháng của 3/2010 đã tăng 0,75%. Tôi cho rằng con số này đối với năm 2010 dường như là cao và nó là chỉ dấu cho chúng ta thấy rằng kiểm soát lạm phát năm 2010 không hề đơn giản, nhưng rồi chúng ta cũng vượt qua và dừng lại ở mức 11,75%.

Ở đây có rất nhiều yếu tố khác nhau, nhưng tôi cho rằng, một trong những yếu tố quan trọng giữ được ở con số trên là nhờ từ tháng 11 Việt Nam đã tuyên bố không tăng giá xăng, không điều chỉnh lãi suất, không điều chỉnh tỷ giá hối đoái, không tăng giá điện... tóm lại, là không gì hết. Đồng thời, chúng ta triển khai một chương trình bình ổn giá tương đối lớn, ở khá nhiều tỉnh thành, với tổng số tiền vài nghìn tỷ đồng. Tôi cho rằng quy mô đợt bình ổn chưa phải là lớn nhưng đã có tác dụng nhất định, cuối cùng chúng ta giữ được lạm phát ở con số 11,75%.

Sang đến năm 2011, chúng ta phải gánh hậu quả từ việc kìm nén của những tháng cuối năm 2010, cộng hưởng thêm các yếu tố bên ngoài nữa. Chúng ta đặt trọng tâm vào ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát trong năm nay là chính xác, chưa kể giá điện, xăng, than... hay lãi suất có thể điều chỉnh nay mai.

Từ đầu chúng ta có 3 người ngồi đây nhưng rất nhiều tranh luận, ý kiến khác nhau xung quanh con số 9,3% (điều chỉnh tỷ giá). Tôi thì bảo cao quá, hơi bất ngờ, anh Bùi Kiến Thành nói bất hợp lý, còn TS. Cao Sỹ Kiêm lại cho rằng đó là con số tốt. Như vậy, với điều chỉnh giá điện, giá xăng dầu cũng vậy. Chúng ta cứ ngồi tranh luận thật rõ về mức buộc phải tăng giá xăng, giá điện đi, nhưng là tăng bao nhiêu.

Đơn cử như giá xăng dầu, chúng ta có chấp nhận là đến tuần sau có tăng 2.000-3.000 đồng/lít không? Năm 2008, Việt Nam đã tăng đột ngột 4.500 đồng/lít, từ 14.500 lên 19.000 đồng/lít. Bây giờ giả định chúng ta tăng 3.000 đồng, tức là giá xăng A92 là 19.400 đồng, cao hơn cả mức giá của năm 2008 - mà năm 2008, giá dầu thô là 147 USD/thùng còn hiện nay giá dầu thô đang dao động quanh 100 USD/thùng. Rõ ràng có một khoảng cách rất lớn, vậy chúng ta có chấp nhận tăng giá đến 19.400 đồng/lít hay không.

Trong khi nếu lật ngược lại vấn đề đồng nội tệ của chúng ta là mất giá so với chính nó. Tôi đã tính từ năm 2008 đến nay, với mức lạm phát của năm 2008 là xấp xỉ 20%, nếu tính theo cuối kỳ là 19,98% nếu tính theo bình quân kỳ là 22,9%... Năm 2009, lạm phát là 6,52%, nếu tính bình quân kỳ là 6,88%. Năm 2010, lạm phát là 11,75%.

Nếu tính như vậy đồng tiền Việt Nam so với chính nó từ năm 2008 đến nay mất giá khoảng 43%. Trong khi đó, tỷ giá hối đoái chúng ta điều chỉnh tỷ giá 6 lần (từ tháng 1/2008 đến nay), đồng Việt Nam mất giá so với USD là 28% - đấy là con số tôi vừa tính toán để rà soát lại giá trị đồng Việt Nam sẽ đi tới đâu?

Ở đây có 1 bài toán tương quan mà chúng ta cần phải giải được về giá điện, giá xăng dầu, đó là về mức độ điều chỉnh tăng giá.

Thứ hai, chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm của năm 2010 khi chúng ta dồn câu chuyện tỷ giá, giá xăng, giá điện vào tháng 2-3 điều chỉnh (tất nhiên lưu ý cả năm nhìn lại cái giá phải trả, nhưng sáng tháng 4,5,6,7, thậm chí là tháng 8 chúng ta nhìn thấy một bức tranh cực kỳ kỳ lạ. Chúng ta điều chỉnh như vậy nhưng chỉ số giá lại tăng cực thấp, chỉ 0,3% đến tháng 9 câu chuyện lại quay sang một chiều hướng khác).

Vậy năm 2011 sẽ theo kịch bản, phương án nào? Từ đó có phương án tổng thể cho cả năm và có thể cho cả giai đoạn vì 2011 là năm bắt đầu của kế hoạch 5 năm, và chiến lược của chúng ta từ nay đến 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp. Vậy cách điều hành kinh tế, hoạch định chính sách có gì gọi là của nền công nghiệp cơ bản hay không thì tôi chưa nhìn thấy.

Biện pháp đồng bộ, thông tin nhất quán

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Với những lo ngại như thế, theo ông Kiêm, đâu là giải pháp để đạt được sự đồng bộ và tạo niềm tin?

- Ông Cao Sỹ Kiêm: Điều hành 2011 có rất nhiều mâu thuẫn mà chúng ta phải chọn ra cái gì mâu thuẫn nhưng ta phải giải quyết cái gì lợi nhiều nhưng hại ít. Tôi ví dụ, việc tăng giá theo lộ trình giá thế giới mình đặt ra nhưng không làm được nhưng cũng phải làm. Việc tăng tỷ giá cho sát thị trường, rồi kéo lãi suất xuống đầy rẫy mâu thuẫn giữa ý tưởng với điều kiện thực hiện cho nên phải khảo sát cụ thể để có quyết định đúng hơn.

Tôi đồng tình với chỉ đạo của Chính phủ là tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, đầu tiên là chống lạm phát vì nó quyết định cho tất cả các hoạt động khác. Sâu hơn nữa 5 giải pháp tiếp mà Chính phủ giao cho từng ngành cụ thể, từng địa chỉ cụ thể. Theo tôi, những biện pháp đó sẽ hỗ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn bây giờ tăng giá điện theo lộ trình thế giới để chúng ta chống lỗ cho các đơn vị, thu hút nguồn đầu tư vào điện thì phải làm, nhưng tăng ở mức độ nào và cái gì làm trước, cái gì làm sau thì cần phối hợp?

Rút kinh nghiệm năm ngoái chúng ta hô một lúc sẽ điều chỉnh nhưng tuy chưa làm đã tạo tâm lý rồi. Nay cũng phải có lộ trình cụ thể, cái này tăng trước, cái kia tăng sau, mức độ thế này, lộ trình ra sao... tuyên bố cho toàn dân biết là dứt khoát phải thế. Cho nên, bố trí kế hoạch sản xuất kinh doanh cho từng đơn vị phải căn cứ vào đó để thiết kế thì anh mới chủ động ứng phó được, không bị động. Đó là cách tốt nhất.

Khi đã làm đồng bộ được, ép được mục tiêu cao nhất là ép từ lạm phát xống thì mâu thuẫn sẽ được giải quyết và những vấn đề khác bớt căng thẳng đi.

Tôi thấy năm 2011 điều hành kinh tế còn khó hơn nhiều, doanh nghiệp còn khó hơn nhiều, thậm chí so cả với năm 2010, 2008... nhưng chúng ta cần phát hiện các yếu tố mới, kể cả bên ngoài bên trong và những yếu tố điều hành của chúng ta trên cơ sở đã rút kinh nghiệm các năm trước, kể cả chống lạm phát, chống giảm phát sau khôi phục kinh tế. Nói tóm lại là chống được lạm phát để ổn định tình hình, trên cơ sở đó thiết kế từng chính sách cho từng lĩnh vực sao phù hợp để có giải pháp đồng bộ.

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Câu chuyện đồng bộ là vậy nhưng cách thực hiện giữa các Bộ, các đơn vị bao giờ cũng có sự khập khiễng, chẳng hạn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá luôn luôn có sự mâu thuẫn rất lớn mà chính ông cũng đã nhiều lần cảnh báo việc này. Có cách nào để các Bộ, ngành phối hợp để thực hiện mục tiêu mà Chính phủ đề ra một cách tốt nhất, thưa ông?

- Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi đã có kiến nghị và Chính phủ cũng đồng ý sẽ có một cuộc họp bàn giữa các Bộ về cách giải quyết. Hôm trước Chính phủ tuyên bố có 5 giải pháp và 8-9 địa chỉ để triển khai thì phải có một cuộc họp để các Bộ bàn với nhau, lên một lộ trình, một chương trình phối hợp, một chính sách cụ thể để thực hiện đồng bộ, phối hợp lẫn nhau. Đây là việc cần thiết nhất và cũng là khiếm khuyết trong thời gian qua.

Tôi rút kinh nghiệm là kể cả lúc nguy nan nhất về kinh tế, nếu chính sách cơ bản đúng nhưng hành động, sự thiếu minh bạch, thiếu nhất quán thiếu làm chính sách ấy không thực hiện được dẫn tới hiệu quả rất kém, nguy cơ lớn hơn là lòng tin giảm. Đó là bài học mà năm ngoái chúng ta đã vấp phải.

Cần tổ chức nguồn nguyên liệu bền vững

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Bùi Kiến Thành, với mục tiêu củng cố niềm tin và ổn định được kinh tế vĩ mô thì đâu là điểm đột phá cần tập trung thực hiện?

- Ông Bùi Kiến Thành: Trở lại vấn đề tỷ giá một chút. Như chúng ta thấy 2011 sẽ ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng tỷ số giá tiêu dùng. Nếu đấy là một ưu tiên thì cần làm tất cả để thực hiện điều đó thì tại sao lại điều chỉnh tỷ giá lên cao như vậy ảnh hưởng ngay tới vấn đề giá cả leo thang, lạm phát? Điều chỉnh thì vẫn phải làm, nhưng điều chỉnh thế nào để có lợi nhất cho nền kinh tế trong thời điểm này rất quan trọng.

Còn chính sách đồng bộ để phát triển thì trong đó có nhiều vấn đề: Cần phải giải quyết vấn đề điện, không chỉ là vấn đề giá mà cần có đủ điện để phát triển kinh tế bền vững. Bộ Công Thương cho biết nếu không giải quyết được vấn đề giá điện thì từ nay đến 2020, 2025 chúng ta vẫn thiếu điện. Nếu không xây nhà máy mới thì bao giờ mới đủ điện? Muốn xây nhà máy thì phải đầu tư thế nào cho hợp lý để tạo lợi nhuận.

Hiện nay theo EVN, không biết bao nhiêu chục dự án đang trễ tiến độ tại vì không có tiền? Thiếu điện nền kinh tế sẽ như thế nào đây? Anh đang nấu một mẻ sắt thép mà bị cắt điện sẽ làm sao? Anh đang làm đông lạnh cá mà bị cắt điện sẽ ra sao? Hay anh đang có hàng nghìn lao động làm trên công trường thì cắt điện công nhân làm gì? Chi phí đấy sẽ rất lớn so với chi phí tăng giá điện. Chúng ta phải tính sao cho ngành điện có thể hoạt động được với cái giá hợp lý và phát triển bền vững.

Làm điện không thể như hàng xén, phải đi nghiên cứu, đi xem thị trường, đặt ra kế hoạch, 3-4 năm sau mới có thể hoàn thành và 5-7 nhà máy mới phát điện. Anh không giải quyết vấn đề giá cả thì 7-10 năm tới anh vẫn thiếu điện - nguy hiểm ở chỗ đó, chứ không chỉ vấn đề giá cả.

Than cũng vậy. Chính phủ phải chỉ đạo tăng công suất ngành than lên, thậm chí tới 100 triệu tấn trong thời gian tới. Vậy đầu tư gì để tăng năng suất? Gas cũng chưa đủ, buộc phải chạy bằng than thì lấy than đâu? Rồi lại phải đi mua. Nếu bên Australia họ không bán nữa thì làm sao giải quyết đây? Vấn đề đó không chỉ là giá cả mà tổ chức nguồn nguyên liệu để tổ chức sản xuất bền vững mới là quan trọng. Do vậy cần có cái nhìn toàn thể mới giải quyết được mọi khâu của một nền kinh tế đang phát triển.

Vấn đề nữa là lãi suất. Không có nền kinh tế nào phát triển được khi lãi suất cao tới 19-20%, làm sao cho đủ tiền để trả lãi như vậy? Cho nên vấn đề lãi suất Thủ tướng đã yêu cầu ngành ngân hàng phải giảm lãi suất xuống, phải dùng công cụ lãi suất để kéo giá cả xuống. Một chính sách cực kỳ hợp lý mà chúng ta cần nghiên cứu để thực hiện. Phải nhìn cái chung để giải quyết sao cho nền kinh tế được ổn định, bền vững chứ tỷ giá chỉ là một phần nhỏ thôi.

- Ông Cao Sỹ Kiêm: Nói như anh Thành thì mọi vấn đề phải phân tích tận gốc mới giải quyết được vấn đề.

Ví dụ mà ai cũng biết là chúng ta đang thiếu điện. Thiếu điện gây tác hại rất nhiều đến sản xuất, kinh doanh, đời sống ảnh hưởng đến chất lượng lòng tin. Nhưng tại sao lại thiếu? Vì không hoàn thành được lộ trình quy hoạch ngành điện (30% số nhà máy không đưa điện lên được). Tại sao không đưa điện lên lưới được? Vì không có vốn. Tại sao thiếu vốn? Vì không có đầu tư. Vì sao không có tiền đầu tư? Vì giá điện thấp quá người ta không làm, nước ngoài không đầu tư, trong nước không đầu tư. Như vậy lại quay trở lại nút cuối cùng: giải quyết được vấn đề giá thì mới hút được vốn, có nhiều người thích làm điện, mới không thiếu điện.

Như vậy chốt ở đây là giá điện đang chênh lệch với thế giới, không hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Cho nên phải tăng. Tăng giá lại kích thích lạm phát, nếu không làm được lại tạo nên vòng luẩn quẩn. Cần tìm ra chốt để giải quyết, thậm chí có tác dụng phụ, chấp nhận hy sinh để nhìn cái lớn hơn, toàn cục hơn và dài hạn hơn.

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Ánh, như ông Kiêm nói chúng ta phải chấp nhận tăng giá - hy sinh tại thời điểm này để phát triển mai sau?

- Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi nói lại, tăng giá thì nhất quyết phải làm, nhưng mức nào, và thời điểm nào, sự phối hợp ra sao và những yếu tố khác như tiết kiệm điện, đầu tư chi phí thấp hơn, giải quyết các thủ tục để cho nhà đầu tư hăng hái vào... thì cần nhiều biện pháp, nhưng nhất định phải tăng giá và theo đó đồng bộ là các giải pháp khác.

- Ông Vũ Đình Ánh: Câu chuyện giá điện cũng không phải là chủ đề chúng ta đề cập ngày hôm nay nên tôi chỉ nói ngắn gọn, kể cả chuyện ngoài giá còn vấn đề gì cần phải làm nữa. Đây không chỉ là điện mà còn xăng dầu, các mặt hàng khác mà Chính phủ đang quản lý về giá (danh mục bình ổn giá lên tới chục mặt hàng, chưa kể nhóm hàng hoá và dịch vụ mà Nhà nước định giá cũng lên tới khoảng 20).

Tôi cho rằng quan trọng nhất năm nay chúng ta muốn ổn định, vậy điều chỉnh giá về quy mô, mức độ hãy ưu tiên cho mục đích này, kể cả các giải pháp đi kèm.

Riêng với câu chuyện điện cuối năm 2010 đã bàn rất nhiều. Quan điểm cá nhân tôi là nếu buộc phải làm vẫn cứ điều chỉnh, nhưng chúng ta phải nhìn rất nhiều mặt của vấn đề.

Tôi luận chứng như thế này. Cách đây 2 ngày tôi có nghe một ông bên Hiệp hội Năng lượng nói rằng từ năm 1997 đến nay không có một dự án đầu tư nước ngoài nào vào ngành điện. Lý do: giá điện thấp. Nhưng tôi lấy con số của Tổng cục Thống kê thì chính khu vực có đầu tư nước ngoài phát điện cho nền kinh tế Việt Nam đã hỗ trợ cung ứng điện rất tốt. Vậy tôi biết tin ai về đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài vào cung ứng điện cho Việt Nam là bao nhiêu, như thế nào, từ đó lý giải câu chuyện tại sao giá thấp như vậy người ta vẫn làm?. Từ đó quay lại câu chuyện rất nhiều dự án thép vào Việt Nam, đó là nhờ họ tận dụng được giá điện thấp.

Vậy thì chúng ta muốn gì: muốn các nhà đầu tư vào điện hay vào thép, nếu xét về mặt kinh tế vĩ mô tổng vốn đầu tư vẫn tốt? FDI vẫn có thể 20-30 tỷ/năm? Vậy giá điện thấp có phải là tốt không? Đó không phải là bài toán của chúng ta mà nhìn chung cho vấn đề điều chỉnh của chúng ta là ưu tiên cho cái gì? Ý kiến của ông Thành rất hay dưới góc độ, nếu tôi ưu tiên một là tăng trưởng kinh tế, hai là ổn định kinh tế trong năm 2011 thì nguyên cái đó người nước ngoài đã gọi là lựa chọn đối nghịch, không thể vừa thế này vừa thế kia.

Ông Thành còn thêm một lựa chọn nữa mà tôi cho là khó hơn rất nhiều, đó là câu chuyện cho 10 năm sau? Ngành than 2-3 năm nữa phải nhập khẩu, dầu thô không phải là tài nguyên vô tận. Biết bao nguồn nguyên liệu khác mà tôi cho rằng trong tỷ lệ nhập khẩu của chúng ta: máy móc thiết bị 30%, hàng hoá tiêu dùng chỉ chiếm 10%, còn lại đó là nguyên nhiên liệu. Trong bối cảnh hiện nay chúng ta vẫn đang xuất khẩu nguyên nhiên liệu cơ bản vậy, tới đây khi nguồn bị thu hẹp thì tới đây kết cấu của chúng ra sẽ ra sao?

Do vậy, việc điều chỉnh tỷ giá chúng ta thu hút vốn hay không, tăng lạm phát thế nào... thì còn đụng chạm tới vấn đề lớn hơn rất nhiều so với cái chúng ta đang bàn hiện nay chỉ giới hạn trong năm 2011 thôi. Có lẽ chúng ta nên đặt lên bàn và lo lắng nhiều hơn là điều chỉnh tỷ giá và mức độ như thế nào.

- Ông Bùi Kiến Thành: Tại sao sắt thép vào Việt Nam đông như thế? Vì giá thành điện ở Việt Nam thấp nhất trong khu vực. Họ không chỉ khai thác lao động rẻ tiền của Việt Nam mà cả giá điện rẻ - đó là điều không hợp lý. Chưa có nhà máy điện nước ngoài nào phát điện nhưng có cả chục giấy phép cấp rồi mà người ta không đầu tư, không triển khai vì giá điện thấp quá, thứ hai than đâu mà điện chạy đây? Nên việc này phải nhìn tổng quan.

DN Việt thiên biến vạn hoá

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Chúng ta đang nói về giá điện. Thực ra câu chuyện giá điện cũng nằm trong tổng thể về giá và tác động tỷ giá kết hợp giá điện gây ra lạm phát và ổn định vĩ mô. Chính phủ đã thể hiện quyết tâm rồi nhưng Chính phủ cũng rất cần sự đồng thuận từ DN và người dân. Vậy để tạo ra sự đồng thuận và quyết tâm cao hơn mình phải làm gì, vì mỗi khi đất nước khó khăn thì tinh thần dân tộc được khơi dậy. Theo ông Kiêm, từ phía các DN, họ cần phải làm gì để ứng phó và tăng trưởng trong khó khăn này?

- Ông Cao Sỹ Kiêm: Ứng phó của DN Việt Nam theo tôi là thiên biến vạn hoá, qua cuộc khủng hoảng năm 2008, lạm phát năm 2009 và năm 2010 vừa rồi. Rõ ràng khi chúng ta dự báo nhận xét các yếu tố tác động tới DN căng thẳng hơn nhiều, đôi khi sẽ dẫn tới hậu quả là hàng loạt DN phá sản.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện họ vẫn vượt qua, trong đó có yếu tố sự đoàn kết. DN Việt Nam, đặc biệt là DN nhỏ và vừa mới ra đời, thích ứng nhanh, có khả năng quyết đoán và xử lý nhanh. Họ tiếp cận và khai thác các yếu tố thị trường tốt hơn. Do vậy, trước những khó khăn họ có sự điều chỉnh: có thể điều chỉnh tích cực để vươn lên, có thể điều chỉnh thúc thủ. Họ dừng lại, chuyển hướng, hoặc chờ thời... sẵn sàng thích nghi ngay.

Cần phải tổng kết để khai thác mặt tích cực của họ. Phải giúp họ đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu, khả năng, tiềm năng khai thác, kể cả thực tế cũng như chính sách để họ biết làm thế nào để hành động có lợi nhất cho họ và cho nền kinh tế, giảm rủi ro nhất.

Năm 2011 khó khăn hơn nhiều đối với DN - đó vẫn là yếu tố quyết định. Một chính sách của Nhà nước có khi chưa đồng bộ nên chưa có tác dụng ngay, nhưng nếu vận dụng sự sáng tạo của tất cả DN trên khắp mọi miền đất nước ở tất cả các lĩnh vực thì sẽ có sức sáng tạo và khả năng đóng góp nhiều hơn.

Thứ hai, trong tình hình khó khăn, Nhà nước nên hỗ trợ những chỗ cần thiết mà họ không làm được: môi trường chính sách, khả năng dịch vụ phục vụ phải nhanh nhạy, thuận lợi, minh bạch, rõ ràng... Khó khăn người ta có thể chấp nhận, nhưng anh giúp tôi nhanh một chút, kịp thời một chút thì tôi chớp được thời cơ; có thể vay với lãi suất cao hơn một chút nhưng sản xuất nhiều hơn, chiếm lĩnh được thị trường, tiêu thụ được nhiều hơn thì tôi cũng sẵn sàng chấp nhận. Ngoài cố gắng của họ thì vai trò của Nhà nước, của cơ quan dịch vụ phục vụ cũng phải được nâng lên, có cải tiến rõ ràng và rút kinh nghiệm những năm qua.

Tôi tin rằng tác động của thế giới tác động sẽ không thuận, như khủng hoảng lương thực, giải quyết xung đột tiền tệ, chính sách XNK... không phải ngày một ngày hai được... sẽ tác động đến Việt Nam ngay vì độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn. Những yếu kém của chúng ta như cân đối vĩ mô, hạ tầng, chất lượng nguồn lực, thủ tục hành chính... tuy rằng chúng ta thấy rất rõ nhưng cần giải quyết theo quá trình. Nếu phát huy được mặt mạnh sẽ góp phần tích cực chuyển biến tình hình, không nhanh nhưng có thể vững chắc.

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Tôi nhớ lại câu nói của ông Thành rằng nguồn lực của mình phải lớn hơn, có nghĩa là để mong được ổn định cũng phải phát triển, không có sự đánh đổi quá nhiều giữa ổn định và tăng trưởng. Theo ông, trong thời điểm khó khăn này Việt Nam cần làm gì để hướng tới ổn định dài hạn ?

Ông Bùi Kiến Thành: Tôi rất thán phục bản lĩnh và sáng tạo của cộng đồng DN Việt Nam, bao nhiêu khó khăn như vậy mà họ vẫn vươn lên phát triển được. Do vậy, cần tạo mọi điều kiện, tạo môi trường cho DN phát triển.

Thứ nhất, về quản lý Nhà nước thì môi trường phải thông thoáng hơn, dẹp bớt chi phí quan hệ này nọ để chi phí của DN giảm xuống - đó là nhiệm vụ chính trị cần làm tốt hơn những năm vừa qua.

Ngoài ra, có những điểm Chính phủ chủ động làm được, chẳng hạn về lãi suất, không cần dựa vào tiết kiệm của nhân dân. Tại sao chúng ta không chủ động sử dụng chủ quyền của Việt Nam về tiền tệ để có thể có được nguồn tín dụng với lãi suất thấp hơn? Đó là điều năm nay cần thực hiện được chủ trương mới về giảm lãi suất.

Tất cả các chuyện khác khi nói Chính phủ cho mọi người thấy là có thể dự báo được, phát triển được và có được sự hỗ trợ của các cơ quan quyền lực trong những việc chúng ta làm.

Tôi đưa ra ví dụ là khi ông Park Chung Hy lên nắm chính quyền ở Hàn Quốc ông hỏi hội doanh nghiệp nước này rằng giờ các DN cần gì. Tôi là chính phủ đây, tôi sẽ cung cấp đầy đủ tài chính cho các anh làm - đó là trách nhiệm của chính phủ, còn các ông phải có trách nhiệm phát triển kinh tế. Huyndai làm xe ôtô, Samsung làm điện tử... cứ làm thật tốt, nếu cần gì chính phủ sẽ cung ứng. Tất cả những dự án khả thi đều được Nhà nước tài trợ, thậm chí 100% vốn, và giám định để cho các DN làm.

Rõ ràng Hàn Quốc đã chứng minh cho chúng ta thấy chính sách này có tác dụng cực mạnh trong 10 năm tiếp theo, 20 năm tiếp theo nữa. Đó là bài học để Việt Nam cần xem xét và làm tốt hơn. Vấn đề là làm như thế nào thôi và tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn làm được để năm 2011 chúng ta có sự đột biến.

Tránh tâm lý đám đông bị yếu tố tiêu cực dẫn dắt

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Ánh, ông băn khoăn rất nhiều về tâm lý người dân trong bối cảnh hiện nay, vậy theo ông cần làm gì để người dân ổn định tâm lý, tiết kiệm chi tiêu và chung tay với khó khăn của đất nước?

TS. Vũ Đình Ánh: Thứ nhất liên quan đến câu chuyện tăng trưởng lạm phát chúng ta bàn xem mục tiêu nào là ưu tiên để tăng trưởng ổn định và bền vững. Tôi cho rằng trong các yếu tố để phát triển chúng ta có 2 phương án.

Về vốn, chúng ta hay nói tăng hiệu quả sử dụng vốn thì giả định Việt Nam tăng trưởng 6-7%, khi đó sẽ không phải sử dụng 40% GDP để đầu tư nữa (cả trong nước và ngoài nước) mà chỉ cần 35% chẳng hạn... như thế là rất tốt rồi vì đã thu hẹp được khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư của Việt Nam. Chính khoảng cách quá lớn, khoảng 10% GDP, giữa tiết kiệm và đầu tư của Việt Nam, đã gây ra câu chuyện về sự mất cân đối vừa qua. Lỗi không phải tại chúng ta tiết kiệm quá nhiều mà tại đầu tư cao so với mức tăng trưởng. Có một phương án khác cũng hay chúng ta không phải đầu tư 40% GDP nữa nhưng phải tăng trưởng trên 10% thì cũng không hề xấu mà tăng trưởng sẽ vừa cao vừa ổn định.

Về tâm lý đây là yếu tố chi phối rất nhiều, không chỉ với thị trường tài chính tiền tệ vốn rất nhạy cảm và nó còn bị chi phối bởi hiệu ứng tâm lý đám đông. Tâm lý khi cộng hưởng hiệu ứng tâm lý đám đông nữa sẽ ảnh hưởng nguy hại nếu đưa theo chiều hướng tiêu cực, và sẽ tốt đẹp nếu theo chiều hướng tích cực.

Việt Nam cần xử lý dứt điểm 2 câu chuyện mà ông Kiêm đã nhắc tới trước đó, đó là sự nhất quán trong điều hành. Nếu không, sẽ tạo ra một môi trường mà ở đó các yếu tố tâm lý sẽ đi theo nhiều chiều hướng khác nhau, và rất có thể nó được dẫn dắt bởi các yếu tố tiêu cực.

Ngoài ra, chuyện điều hành cũng liên quan đến yếu tố đồng bộ. Tại sao ta chưa làm tốt? Bởi vì có chuyện như thế này: Phân công phân nhiệm của ta có vấn đề. Cùng một việc có thể phân công rất nhiều người làm nhưng không ai chịu trách nhiệm, ngược lại có chỗ thì không phân công ai cả. Từ đó, dẫn tới câu chuyện thiếu đồng bộ. Cần có người điều hành phân công phân nhiệm đó, tức là người đứng trên.

Thứ hai, yếu tố tâm lý là luôn có, đặc biệt là tâm lý đám đông, nó biến động dữ dội khi những thiếu thông tin chính thức. Tin đồn và hiệu ứng đám đông chỉ phát triển khi thiếu những thông tin nhất quán, chính thức. Do vậy, cần cung cấp thông tin chính thức và sự nhất quán trong nội hàm thông tin đưa ra chứ không ở vỏ bọc ngôn ngữ.

- Nhà báo Lê Vũ Phong: Xin cảm ơn các vị chuyên gia về buổi trực tuyến với rất nhiều vấn đề được nêu ra liên quan đến tỷ giá và gợi mở nhiều biện pháp cho công tác điều hành sắp tới.

Chi li... như Doanh nhân Đài Loan

Chi li... như Doanh nhân Đài Loan

CafeF- 10/01/2011

Từ lâu, tôi vẫn nghe nói để đàm phán thành công với các thương nhân Trung Quốc, Đài Loan phải thật kiên nhẫn và khôn khéo bởi vì họ rất kỹ tính và hay mặc cả. Không hay nhưng phải nói thật rằng, doanh nhân Đài Loan khá “keo”. Dưới đây là một số câu chuyện có thật, tôi chứng kiến xin kể mọi người cùng nghe để biết cách đàm phán khi hợp tác với người Đài Loan.

Chuyện là, tôi phải làm “phiên dịch viên bất đắc dĩ” giúp ông anh đàm phán kí hợp đồng nhôm kính với một ông khách người Đài Loan. Thời gian bắt đầu chào giá đến khi đàm phán kí kết hợp đồng mất gần hơn 2 tháng trời chỉ với một hợp đồng làm cửa nhôm kính trị giá 100.000.000 đồng.

Tôi biết chắc chắn rằng so với giá của các nhà cung cấp khác, giá của công ty anh tôi đưa ra “mềm” hơn rất nhiều bởi vì chúng tôi có nguồn hàng giá gốc. Tuy vậy, ông khách Đài Loan vẫn tìm cách mặc cả. Hiểu được tính cách của người Đài Loan, công ty anh tôi “quyết định” bớt 10.000 đồng cho một mét vuông kính cường lực. Vậy chi là hợp đồng chỉ giảm được 1.000.000đồng/100.000.000đồng nhưng ngay lập tức khách đồng ý hợp tác. Đã đành mua bán, mua được giá rẻ bao nhiêu tốt bấy nhiêu.

Nhưng người Việt Nam ta vẫn có câu “Xởi lởi trời cho, bo bo trời phạt”. Trường hợp của công ty anh tôi, không có thưởng phạt gì ở đây. Nhưng thiết nghĩ chỉ giảm có 1.000.000đồng/100.000.000đồng, con số không đáng là bao mà lại chậm thời gian hợp tác. Mà ông khách là vị Tổng giám đốc cho một công ty chuyên xuất nhập khẩu rau quả, có đến 6 chi nhánh ở các nước Anh, Mỹ, và Việt Nam nên tôi mới “bất ngờ vì tính mặc cả của người Đài Loan”. Anh tôi cười bảo, “Đó là tính cách của người Đài Loan!”

Tôi chưa tin lắm cho đến một hôm tôi ngồi trên xe cùng với anh tôi đi kí hợp đồng với ông khách người Đài Loan đó (Ông cho tài xế đến chở chúng tôi đi). Lúc qua trạm thu phí cầu Phú Mỹ Hưng, tôi đã chuẩn bị tiền lẻ tính trả cho tiện. Nào ngờ thay vì đi qua cầu mất 10.000 tiền phí, anh tài xếđã vòng sang đường không qua cầu để không mất phí. Anh ta giải thích vì không mất công trình hóa đơn cho công ty nên đi vòng để “tiết kiệm”. Tôi nhìn sang anh tôi và gật đầu, “Đó là tính cách của người Đài Loan!”

Chưa hết, người Đài Loan muốn vừa mua được hàng giá rẻ nhưng hàng phải là hàng cao cấp. Họ nghiên cứu rất kỹ lưỡng giá cả cũng như chất lượng hàng hóa trước khi đàm phán hợp tác. Do vậy, bạn đừng nghĩ đến chuyện “qua mặt” họ. Họ cũng muốn chi phối cả cách quản lý các số liệu của bạn nếu  bạn quá tin người. Như trường hợp hợp đồng của công ty anh tôi, sau khi đã đồng ý giá cả, chúng tôi cho thợ đo đạc các số liệu. Công trình của ông khách Đài Loan này khá phức tạp, nên chỉ việc đo lấy số liệu cũng phải mất tới 2 ngày.

Vị khách đề nghị chúng tôi quản lý theo cách của ông ấy. Nhưng anh tôi đã khôn khéo bảo rằng cách quản lý của khách khá hay, nhưng xin phép được quản lý số liệu theo cách của công ty để tiện thi công. Anh tôi bảo rất khó lường trước những “trở chứng” của những vị khách đến từ Đài Loan nên cần phải có những nguyên tắc riêng của mình, không thể cái gì cũng chiều theo ý của khách hàng, nhất là đối tác lại là những người Đài Loan.

Không chỉ trường hợp của công ty anh tôi, mà bạn bè tôi nhiều người làm việc cho những giám đốc và quản lý người Đài Loan, đều khẳng định rằng các ông chủ Đài Loan rất kỹ tính, khá chi li và trong nhiều trường hợp, họ còn tính cả tuổi khi hợp tác. Nếu không hợp tuổi thì không hợp tác, đặc biệt là đối với các thương vụ lớn. Nếu hợp tuổi, công đoạn hợp tác có thể đượcrút ngắn, nhưng tính chi li thì đã thành “nét tính cách nổi bật” của người Đài Loan!

Theo Thanh Loan

Đỗ Thị Hoàng Yến- Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh- Sưu tầm và đăng tải.

 

Hãy để kinh tế nhà nước cạnh tranh bình đẳng!

TIẾN SĨ LÊ ĐĂNG DOANH:

Hãy để kinh tế nhà nước cạnh tranh bình đẳng!

Phát huy tối đa mọi nguồn lực của người dân để kinh tế dân doanh phải được phát triển.

Theo dự kiến, khoảng trung tuần tháng 9, các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI sẽ được công bố để lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân. Một nội dung được đánh giá sẽ thu hút sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, trong đó xác định các thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo...

Ngày 30-8, trao đổi với báo chí về vai trò kinh tế nhà nước trong bối cảnh hiện nay để góp ý cho dự thảo Văn kiện Đại hội XI sắp tới, TS Lê Đăng Doanh, (ảnh)chuyên gia kinh tế cao cấp, cho rằng thời điểm hiện nay đã chín muồi để xem xét lại quan điểm: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Cần nhưng phải thực chất

. Thưa ông, vì sao ông cho rằng đã đến lúc phải nghiêm túc nhìn nhận lại cụm từ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”?

 

Việc xác định vai trò kinh tế nhà nước làm chủ đạo nền kinh tế đất nước trước đây đã gây nhiều tranh cãi. Từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thời gian qua, cụ thể nhất là câu chuyện của Vinashin lại càng gây tranh cãi nhiều hơn. Đã đến thời điểm cần nhìn thẳng vào sự thật xem kinh tế nhà nước có thực sự chủ đạo hay chỉ mới được khoác vào một cái áo rất đẹp đẽ nhưng thực chất bên trong không phải thế.

Tôi cũng lưu ý trên khắp thế giới không có một nước nào có câu này cả, ngay Trung Quốc cũng không đặt vấn đề này. Vấn đề ở đây là phải xác định làm sao để nền kinh tế tăng trưởng, bền vững, có hiệu quả.

. Nhưng không thể phủ nhận là thời gian qua các tổng công ty, tập đoàn nhà nước đã đóng góp rất nhiều vào GDP của Việt Nam, thưa ông?

+ Chúng ta rất cần những tập đoàn nhưng phải là những tập đoàn thực chất chứ không phải là một con số cộng hành chính lại với nhau, không đem lại một sức mạnh thật mà còn gây ra nhiều vấn đề. Đến nay cho thấy kinh tế nhà nước thu hút rất nhiều tín dụng, sử dụng rất nhiều tài sản nhưng mà xuất khẩu thấp, năng suất lao động thấp, hiệu quả kinh tế thấp và đặc biệt xảy ra tình trạng “vừa mất của, vừa mất người” như Vinashin. Nợ của Vinashin tương đương 4,8% GDP, đấy là một tài sản khổng lồ làm sao bù lại được. Chưa kể chúng ta đã mất thêm ông Bình (ông Phạm Thanh Bình - chủ tịch HĐQT Vinashin đã bị bắt tạm giam - PV) là một con người rất hăng hái…

. Vậy theo ông, nguyên do vì sao lâu nay chúng ta vẫn tiếp tục duy trì kinh tế nhà nước làm chủ đạo?

+ Có thể có một số người đưa ra lý do về lý luận… Ngoài ra, theo tôi, có một lý do không nói ra là lợi ích nhóm đằng sau các DN. Đằng sau đó rất nhiều chuyện, giá trị của DNNN tài sản hữu hình như đất đai, tài sản vô hình như vị trí đất ở trung tâm TP chỉ có các DNNN có được,… đã đánh giá hết chưa? Chính những điều này là ẩn số mà những người trong lợi ích nhóm dùng cái chủ đạo định hướng xã hội chủ nghĩa để bảo vệ lợi ích nhóm của mình.

Phát huy tối đa mọi nguồn lực

. Làm thế nào để có nhận thức mới về vấn đề này, thưa ông?

+ Phải mang vấn đề này ra thảo luận một cách dân chủ. Theo tôi, có bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cũng không mất đi cân thịt nào cả. Thay vào đó là phát huy tính cạnh tranh trên cơ sở phát huy tối đa mọi nguồn lực của người dân để kinh tế dân doanh phải được phát triển. Tất cả thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng chứ không cần phải nhấn mạnh ông nào chủ đạo. Ngay cả cách đặt vấn đề vừa nói các thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng lại vừa bảo kinh tế nhà nước là chủ đạo đã là mâu thuẫn.

. Không quan trọng ai là chủ đạo thì có thay đổi được tình trạng hiện nay để nền kinh tế phát triển bền vững, hiệu quả không, thưa ông?

+ Phải cải cách cả thể chế, bộ máy nhà nước. Nhà nước không nên trực tiếp tham gia vào kinh doanh mà tập trung làm tốt giáo dục, y tế, tổ chức kết cấu hạ tầng,… Còn tất cả việc kinh doanh phải để nền kinh tế làm. Không thể nào một ông vừa làm thứ trưởng, vừa làm chủ tịch HĐQT như hiện nay. Tôi không biết trong người ông này có mấy trái tim mà vừa phải kinh doanh tính toán lỗ lãi, mạo hiểm, chấp nhận rủi ro, rồi lại thêm một trái tim hành chính chỉ được chấp hành theo pháp luật!

Cạnh tranh bình đẳng

. Nhưng có nhiều ý kiến lo ngại có những việc phải do kinh tế nhà nước chủ đạo mà khối kinh tế tư nhân không thể đảm nhiệm thay được. Chẳng hạn như vấn đề điều tiết về giá cả…?

+ Tất cả mệnh đề nói DNNN phải điều tiết kinh tế vĩ mô tôi cho rằng cho đến nay, cả về khoa học kinh tế lẫn thực tế đều chưa chứng minh điều này. Hãy để DN là DN. Còn muốn quản lý giá thì hãy tổ chức cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh. Rồi thực hiện điều tra cạnh tranh xem ông nào lừa dối, ông nào bán kém chất lượng, khi ấy phạt tới bến. Hiện nay vai trò của cạnh tranh thấp, trong khi đó vai trò quản lý giá bằng hành chính thì rất nhiều.

. Nếu vậy, thành phần nào sẽ đủ sức để giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế hiện nay, thưa ông?

+ Tôi xin nhấn mạnh rằng lịch sử không thể nào sang trang qua đêm, phải có quá trình từng bước phát triển. Tôi cũng muốn nhấn mạnh không phải doanh nghiệp tư nhân nào cũng đều ngon lành. Những đại gia ngon lành hiện nay phải xem có phải là những ông có đóng góp vào tiến bộ khoa học công nghệ không, có như Bill Gates tạo ra phần mềm cả thế giới dùng không… Phần lớn những đại gia đó đều có mối quan hệ với quan chức được tiếp cận đất đai, hầm mỏ… và họ giàu lên từ những nguồn đó chứ không phải nhờ áp dụng khoa học công nghệ, phát minh. Tất cả những ông đó không có sức cạnh tranh quốc tế.

Vì vậy không nên quá ảo tưởng và cũng không nên nghĩ rằng bây giờ doanh nghiệp tư nhân có thể thay thế được.

Mệnh đề của tôi là các DNNN phải cạnh tranh bình đẳng. Những đứa con được nuông chiều dễ trở thành những đứa con hư, cây nào sống trong nhà kính thì không thể chịu được gió bão. Hãy để nó sống trong môi trường bình thường, chịu gió bão cạnh tranh, phải phấn đấu lên thì khi ấy DNNN mới có hiệu quả hơn. Cần có một lộ trình cắt giảm, không thể ngay lập tức cắt giảm hết. Không ai cai sữa cho một đứa trẻ qua đêm, phải làm dần dần để hướng đến môi trường cạnh tranh hơn.

. Xin cảm ơn ông.

THU HẰNG

 

 

Nguồn: Báo Pháp luật TP.HCM

CHỨNG KHOÁN PHẢN ỨNG VỚI TỈ GIÁ: BẤT NGỜ HƠN LO NGẠI

Đối với NĐT, mối lo lắng mơ hồ thôi thúc nhu cầu bán ra hơn là sự quan ngại thực tế đã được phân tích và cân nhắc các tác động của chính sách.

Động thái giảm giá tiền đồng thêm 2% ngày 17.8 đã tác động mạnh đến tâm lý NĐT trên TTCK. Gần như ngay lập tức thị trường đã phản ứng mạnh trong phiên kế tiếp. Tuy nhiên, phiên giao dịch ngày 19.8 cho thấy sự bình tĩnh đã trở lại và phản ứng bán ra là do bất ngờ.

Thay đổi giờ chót

Không ít chuyên gia, GĐ phân tích của các CTCK tỏ ra bất ngờ trước quyết định tăng tỉ giá USD/VND liên ngân hàng được công bố chiều muộn ngày 17.8. Không lâu trước đó, thị trường vẫn kỳ vọng một chính sách ổn định như những báo cáo thường kỳ của Ngân hàng Nhà nước. Theo một chuyên gia ngân hàng, ngay việc công bố vào “giờ chót” của ngày cũng đã cho thấy cơ quan quản lý muốn hạn chế thấp nhất những xáo trộn có thể xảy ra trên thị trường tiền tệ.

Tuy nhiên thực tế thị trường tiền tệ cũng đã manh nha những tín hiệu về điều chỉnh tỉ giá. Giá USD trên thị trường tự do cả tuần trước đó đã có biến động tăng. Giá giao dịch ngoại tệ của các ngân hàng luôn sát mức trần. Một số chuyên gia cũng đã phân tích về cảnh báo sức ép tỉ giá thời điểm cuối năm. Thậm chí việc điều chỉnh đã được dự đoán là chỉ còn vấn đề thời gian.

Tuy nhiên đa số NĐT trên TTCK, nhất là NĐT cá nhân, không được “nhạy” với thị trường tiền tệ tự do. TTCK đã chứng kiến nhiều bất ngờ về chính sách và một hiệu ứng xấu của sự bất ngờ là thất vọng và chán nản. Hồi đầu tháng 8, đã có những phát biểu về định hướng điều hành tiền tệ ổn định nhưng đến nay lại có sự thay đổi.

Phản ứng bán tháo CP trong ngày 18.8 trước tác động của thông tin trên là rất rõ ràng. VN-Index giảm 1,7% cuối ngày và mức dao động thực tế trong phiên còn lớn hơn, xấp xỉ 2%. NĐT chỉ có một đêm để suy nghĩ và có lẽ mối lo lắng mơ hồ thôi thúc nhu cầu bán ra hơn là sự quan ngại thực tế đã được phân tích và cân nhắc các tác động của chính sách.

Trong phiên giao dịch ngày 19.8, gần như nửa đầu phiên thị trường tiếp tục chứng kiến hoạt động bán rẻ để rút khỏi thị trường. Tuy nhiên áp lực bán rất thấp, thể hiện ở khối lượng chuyển nhượng giảm tới 26%, thấp nhất kể từ ngày 24.2.2010. Điều đó cho thấy nhu cầu bán ra đã giảm nhiều và không còn quyết liệt như phiên trước. Tâm lý NĐT đã bình tĩnh hơn. Trong một vài ngày tới thị trường tiền tệ ổn định trở lại chắc chắn sẽ tác động tích cực hơn đến TTCK.

Tác động nào?

Suy luận đầu tiên về tác động của việc điều chỉnh tỉ giá là gây áp lực lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) những tháng còn lại do giá hàng nhập khẩu tăng lên. Hai tháng gần đây tốc độ tăng CPI rất chậm và NĐT bắt đầu yên tâm về khả năng kiềm chế lạm phát khoảng 8% cũng như cơ hội nới lỏng tiền tệ hơn để thúc đẩy tăng trưởng.

Khi tỉ giá tăng, một số hàng hóa chịu ảnh hưởng tăng giá như hàng nhập trực tiếp hoặc hàng có nguồn gốc nguyên liệu nhập khẩu. Nếu CPI tăng thì cơ hội nới lỏng tiền tệ càng mờ mịt hơn và TTCK càng bị “thất sủng”.

Tuy nhiên, mặt tích cực của việc điều chỉnh tỉ giá là làm ổn định thị trường này, khuyến khích xuẩt khẩu, hạn chế nhập siêu. Việc tăng tỉ giá ngay từ tháng 8 cũng được xem là nhanh nhạy đi trước hơn là phải phản ứng khi bị “chiếu bí” vào cuối năm. Mặt khác, tác động tăng giá không hẳn lớn như suy luận khi Chính phủ quyết liệt bình ổn giá cũng như tiến triển của việc kiềm chế lạm phát tính đến thời điểm này.

Thứ hai, tỉ giá tăng dẫn đến các kênh đầu tư khác như ngoại tệ và vàng trở nên hấp dẫn do có dao động mạnh. Trong bối cảnh TTCK đang ảm đạm thì logic dễ hiểu là dòng tiền có thể tranh thủ kiếm ăn ở hai kênh đầu tư này.

Dù vậy, có thể biến động này là một cơ hội ngắn hạn hơn là một cơ hội đầu tư lâu dài. Chẳng hạn nâng tỉ giá khác với nới rộng biên độ dao động, hay giá vàng tăng cũng sẽ phản ánh cân bằng với tỉ giá mới. Thậm chí có thể tỉ giá lên sẽ khuyến khích tăng cung USD khi tâm lý găm giữ được giải tỏa.

Thứ ba là quan ngại về dòng vốn nước ngoài. Việc giảm giá tiền đồng dĩ nhiên khiến giá trị mục quy đổi ra USD của NĐTNN sẽ giảm theo. Tuy nhiên thực tế từ một số lần điều chỉnh giao dịch tỉ giá trước đó, phản ứng của NĐTNN gần như không có liên quan trực tiếp. Trước đây đã có lúc việc định giá cao đồng nội tệ đã khiến NĐTNN không thực hiện quy đổi USD ra VND. Tỉ giá tăng khiến giá CP rẻ hơn trong mắt NĐTNN.

Thứ tư, biến động tỉ giá tác động trực tiếp đến một số Cty niêm yết. DN sản xuất dựa trên nguyên liệu nhập khẩu sẽ bị tăng thêm chi phí và lãi vay nếu không sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa. Ngược lại, DN xuất khẩu được lợi vì giá bán sau khi quy đổi ra tiền đồng tăng lên. Có thể hoạt động cơ cấu danh mục sẽ hộn nhịp hơn thời gian tới.

 

 

Hoàng Nguyên
Lao động

 

LUẬT CHỨNG KHOÁN- 4 năm không một sản phẩm mới

LSBT- Ngay từ khi ra đời, Luật CK đã quy định CTCK có thể cho NĐT vay tiền, vay chứng khoán. Song đã 4 năm qua vẫn không có một văn bản hướng dẫn nào được ban hành.

 

Trong khi nền kinh tế vẫn ổn định, phần lớn DN niêm yết đều có sự tăng trưởng, thì chỉ số đo lường sức khỏe của nền kinh tế là VN-Index lại lao dốc. Điều này được lý giải bởi nhiều nguyên nhân như dòng tiền vào thị trường yếu ớt, trong khi nguồn cung hàng phát hành thêm tăng quá lớn.

Bên cạnh đó, nền kinh tế vĩ mô vẫn tiềm ẩn nguy cơ về nhập siêu, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả đầu tư thấp từ những tập đoàn kinh tế như Vinashin… Tuy nhiên, phản ứng tiêu cực của TTCK thời gian qua còn phần nào cho thấy tâm lý bi quan của NĐT, khi họ quá mỏi mòn chờ đợi những cú huých từ chính sách phát triển thị trường của cơ quan quản lý. Đến thời điểm này, việc cho phép những sản phẩm mới ra đời vẫn chỉ là sự trông đợi.

 

Ngay từ khi ra đời, Luật Chứng khoán đã quy định CTCK có thể cho NĐT vay tiền, vay chứng khoán theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Vậy nhưng, đã 4 năm qua vẫn không có một văn bản hướng dẫn nào được ban hành. CTCK nào "mạnh dạn" thì làm với lý lẽ luật không cấm, công ty nào thận trọng thì đứng ngoài cuộc chịu mất lợi thế cạnh tranh. Thị trường tồn tại sự cạnh tranh không lành mạnh trước sự im lặng của cơ quan quản lý.

 

Đó chỉ là một ví dụ cho thấy, có nhiều điều mà luật cho phép thực hiện, nhưng các thành viên thị trường không dám làm chỉ bởi một cụm từ "chờ hướng dẫn". Nhiều NĐT chưa hiểu quy trình ban hành văn bản pháp quy trong lĩnh vực chứng khoán như thế nào nên đã hiểu lầm UBCK lâu nay "không chịu làm gì".

 

Về thông tư của Bộ Tài chính trong lĩnh vực chứng khoán, có thể mô tả quy trình ban hành văn bản này như sau: UBCK dự thảo văn bản và tổ chức hội thảo, lấy ý kiến các thành viên thị trường, sau đó tập hợp, chỉnh sửa văn bản trình lên Bộ Tài chính. Thông thường, Vụ Tài chính Ngân hàng, Vụ Pháp chế, các tổng cục có liên quan… sẽ thẩm định những văn bản này trước khi trình lên lãnh đạo Bộ phê chuẩn.

"Có một điều trớ trêu là những chính sách lớn của thị trường liên quan đến hàng triệu NĐT, hàng trăm DN niêm yết, CTCK và đến một thị trường có quy mô tương đương 40% GDP của đất nước đôi khi lại được thẩm định bởi một chuyên viên trẻ thiếu kinh nghiệm của một Vụ nào đó. Chỉ cần không hiểu do thiếu va chạm thực tiễn thị trường và có bút phê 'cần xem lại' thì cả một chính sách lớn được thai nghén từ thị trường sẽ bị xếp vào ngăn kéo", một cán bộ của UBCK cho biết.

Cho đến thời điểm này, các thông tư liên quan đến sản phẩm mới, tỷ lệ an toàn tài chính các CTCK, thông tư về giao dịch… đều đang nằm trên bàn Bộ Tài chính chờ được ban hành. Sự thận trọng của cơ quan này là cần thiết, nhưng rõ ràng nó đang làm chậm đi sự phát triển của thị trường, làm nản lòng không ít NĐT.

Luật Chứng khoán đang được sửa đổi, nhưng chưa "chọc" thẳng vào những vấn đề vướng mắc từ thực tiễn. Nhiều NĐT cho rằng, chừng nào Bộ Tài chính chưa có sự nhìn nhận đúng mức về những gì thị trường đang cần để ban hành chính sách kịp thời, chừng đó sự phát triển thị trường còn bị kéo chậm. Chừng nào vấn đề độc lập của UBCK chưa được đặt ra, chừng đó còn làm mất đi sự linh hoạt trong điều hành, bởi TTCK là thị trường của lòng tin và hết sức nhạy cảm.

Theo Thanh Đoàn
ĐTCK

 

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL